Chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

0

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thông tin tuyên truyền

(Chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 6/2017) 

Hoạt động trong lĩnh vực thông tin – truyền thông, chúng ta luôn luôn học tập và làm theo Bác về công tác tuyên truyền và thấm nhuần những chỉ dẫn của Người để từ điều kiện thực tế, lựa chọn cách thức tuyên truyền cho phù hợp, nhằm đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tuyên truyền lớn của Đảng ta, là tấm gương mẫu mực về công tác tuyên truyền. Người định nghĩa và xác định rõ mục đích của tuyên truyền: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại”. Trong công tác tuyên truyền phải mang tính đại chúng, tính nghệ thuật, diễn đạt ngắn gọn nhưng sâu sắc, giản dị, dễ hiểu, sử dụng linh hoạt sáng tạo các thành ngữ, dân ca… trong hoạt động thực tiễn. Trong hoạt động tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện phương châm kết hợp giữa lời nói và hành động, lý luận gắn liền với thực tiễn. Người chủ trương nói ít, làm nhiều; chỉ nói khi thật cần thiết, nói đúng để làm đúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện nhuần nhuyễn sự kết hợp giữa lời nói và hành động, làm chủ lý luận, thực tiễn hóa lý luận và lý luận hoá thực tiễn.

Từ những hành động tuyên truyền của Người đã tạo sức cuốn hút, cảm hoá mọi người. Theo Hồ Chí Minh: “Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi viết cho ai xem, nói cho ai nghe. Nếu không vậy, thì cũng như cố ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem”. Người còn chỉ ra rằng: “Tuyên truyền không cần phải nói tràng giang đại hải. Mà nói ngắn gọn, nói những vấn đề thiết thực, chắc chắn làm được, để cho mọi người hiểu rõ và quyết tâm làm bằng được”. Nói đến lực lượng làm công tác tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tất cả cán bộ, đảng viên, hễ những người tiếp xúc với dân chúng đều là người tuyên truyền của Đảng. Vì vậy, ai cũng phải học nói, nhất là học nói cho quần chúng hiểu”, hơn lúc nào hết người làm công tác tuyên truyền “Phải có lòng tự tin, tin vào mình, tin Đảng, tin giai cấp, tin nhân dân mình”.

Đối với công tác tuyên truyền trên mặt trận báo chí, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ quan điểm tư tưởng của mình. Đó là cách viết. Vì ai mà viết? Mục đích viết làm gì? Viết cho ai? Viết cái gì? Cách viết thế nào? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng nhiều chữ. Viết phải gọn gàng, vắn tắt, nhưng phải có đầu có đuôi, viết phải thiết thực, chớ ham dùng chữ”. Bác còn căn dặn “để làm trọn nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn, thì các báo chí ta cần phải gần gũi quần chúng hơn nữa, đi sâu vào công việc thực tế hơn nữa, cách làm việc của báo chí phải cải thiện hơn nữa”. Bác xác định rõ mục đích của báo chí: “Báo chí phải phục vụ ai? Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội… Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần chiến đấu”…

Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo sự thống nhất trong ý chí và hành động, tạo sự đồng thuận và quyết tâm trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội./.

                                    Ban Tuyên giáo Thị uỷ (tổng hợp)

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác thương binh, liệt sĩ

(Chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 7/2017)

“Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Đây cũng là một trong những nguồn gốc hình thành tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh nói chung, tình cảm, tư tưởng của Người đối với thương binh, liệt sĩ nói riêng.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tất cả mọi người, đặc biệt là các cụ già, phụ nữ, thanh thiếu niên nhi đồng, các chiến sỹ, thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sĩ. Năm 1946, khi nước nhà vừa mới giành được độc lập, giữa bộn bề công việc và khó khăn chồng chất nhưng Người vẫn không quên các thương binh, thân nhân gia đình liệt sĩ: “Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ, cám ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sĩ đó và tôi nhận các con liệt sĩ làm con của tôi”.

Năm 1947, trong khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở vào giai đoạn quyết liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị các ban, ngành, đoàn thể Trung ương đang họp ở Đại Từ, Thái Nguyên, lấy ngày 27/7/1947 làm “Ngày Thương binh toàn quốc” đầu tiên để bày tỏ tình cảm thắm thiết, lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân đối với những người bị thương tật vì đã không tiếc máu xương, cống hiến hết mình cho Tổ quốc. Từ đó, hàng năm, ngày 27/7 trở thành “Ngày Thương binh toàn quốc”. Từ năm 1955, “Ngày Thương binh toàn quốc” được đổi tên thành “Ngày thương binh liệt sĩ”.

Hằng năm, cứ vào dịp tháng 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thư thăm hỏi, động viên thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, một mặt khẳng định công lao, đóng góp của họ, một mặt động viên họ: “Các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương, cũng như các đồng chí đã từng là chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận”, để mỗi “thương binh tàn nhưng không phế”.

Trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khi sang thăm nước Pháp, Người đã viếng thăm và đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm chiến sĩ tử trận tại Biarit, mộ chiến sĩ vô danh tại Khải Hoàn Môn, mộ liệt sĩ bị phát xít Đức bắn trên đồi Valêriêng. Người nói “Trông thấy nghĩa sĩ Pháp vì độc lập và tự do mà bị người Đức tàn sát, lại nhớ đến nghĩa sĩ Việt cũng vì độc lập, tự do mà cũng bị người khác tàn sát, khiến cho người ta thêm nỗi cảm động ngậm ngùi”. Tình yêu thương, nhân ái của vị lãnh tụ kính yêu đã không bị một ranh giới địa lý hay chính trị nào giới hạn mà trở thành yếu tố của lý tưởng chung: Bình đẳng và bác ái giữa hai dân tộc Việt – Pháp. Từ đó, Người khẳng định: Dù ở đâu, bất cứ nơi nào: Độc lập – tự do đều do xương máu của các nghĩa sĩ và sự đoàn kết của toàn dân mà xây nên. “Vậy nên, những người chân chính yêu chuộng độc lập, tự do của nước mình, thì cũng phải kính trọng độc lập, tự do của dân tộc khác”.

Tình yêu thương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với thương binh, liệt sĩ còn được thể hiện ở những nghĩa cử cao đẹp, bình dị và rất đỗi tự nhiên trong đời sống thường ngày. Người thường trích lương, dùng những bộ quần áo, khăn tay, các vật dụng khác để làm quà tặng cho anh em thương binh tại các trại điều dưỡng.

Ghi nhớ công lao của các liệt sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên đặt vòng hoa viếng tại Đài liệt sĩ Hà Nội vào các dịp lễ tết: “Ngày mai là năm mới… Trong lúc cả nước vui mừng, thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Bác thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sĩ”. Không chỉ dừng lại ở đó, Người còn ký và ban hành các sắc lệnh về chế độ: “Hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ”; thành lập sở, ty thương binh, cựu binh ở khu và tỉnh, đặt ra Bảng vàng danh dự, Bằng gia đình vẻ vang và truy trặng, phong tặng các danh hiệu anh hùng, huân, huy chương cho các liệt sĩ, thương binh.

Ngoài những việc làm nghĩa cử của bản thân, đối với thương binh, liệt sĩ, Người cũng nhấn mạnh: Để phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” trở thành một phong trào có sức lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, có hiệu quả và thiết thực, toàn Đảng, toàn dân phải vinh danh, ghi nhận công lao to lớn của thương binh, liệt sĩ và làm tốt hơn nữa công tác “Đền ơn đáp nghĩa”. Nhiều tổ chức Hội như “Hội mẹ chiến sĩ”, “Hội ủng hộ thương binh” được thành lập; nhiều phong trào như “Trần Quốc Toản”, “Đón thương binh về làng” được phát động rộng rãi, góp phần cùng Đảng, Nhà nước chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, thắt chặt thêm tình quân dân như “cá với nước”.

Nặng lòng với thương binh và gia đình liệt sĩ, trước lúc đi xa, trong bản Di chúc bất hủ, Người căn dặn: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình” cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong”… Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi nhận sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

Đối với cha, mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương… phải giúp đỡ họ có công ăn, việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói, rét.

Với truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc, ghi nhớ và thực hiện Lời dạy của Người, 70 năm qua (27/7/1947 – 27/7/2017), Đảng bộ và nhân dân thị xã Thái Hòa (Huyện Nghĩa Đàn trước đây) đã thường xuyên quan tâm và thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, chính sách đối với người có công với cách mạng. Các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” ngày càng đi vào chiều sâu và xã hội hóa cao. Các phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa, Quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc con liệt sĩ mồ côi, đi tìm hài cốt đồng đội, tu sửa, nâng cấp các nghĩa trang, đài tưởng niệm liệt sĩ… ngày càng thu hút sự tham gia của toàn xã hội. Thực hiện chi trả đầy đủ, kịp thời, trợ cấp ưu đãi thường xuyên cho các đối tượng người có công, các chính sách về chăm sóc sức khỏe; trang cấp, ưu đãi giáo dục đào tạo và các chính sách khác đối với người có công; đời sống các gia đình chính sách ổn định và từng bước cải thiện đã góp phần giữ vững và ổn định về chính trị – xã hội cho các địa phương trong Thị xã.

Đã 70 năm trôi qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chọn “Ngày thương binh”, toàn Đảng, toàn quân ta vẫn đang nỗ lực thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, đền ơn, đáp nghĩa những người có công với nước. Các chủ trương, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công đã phát huy cao độ truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” – truyền thống tốt đẹp đã có từ hàng ngàn năm nay của dân tộc Việt Nam, tiếp thêm ngọn lửa của tình đoàn kết và lòng yêu nước trong các thế hệ con Lạc cháu Hồng. Những câu nói, bài viết của Bác đã và sẽ mãi mãi là phương châm hành động, lẽ sống của thương binh, gia đình liệt sĩ, định hướng cho các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” của nhân dân ta./.

                                                                                           Ban Tuyên giáo Thị uỷ    (tổng hợp)

              Phong cách tư duy Hồ Chí Minh

(Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 8/2017)

 Hồ Chí Minh là người Mácxít, phong cách tư duy của Người trước hết là phương pháp biện chứng duy vật: xuất phát từ thực tiễn để trở lại biến đổi thực tiễn. Hồ Chí Minh đã thể hiện một phong cách tư duy khoa học và hiệu quả với những đặc trưng nổi bật như sau:

* Phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại

Từ cách tiếp cận vấn đề một cách khoa học, gắn với yêu cầu của thực tiễn và điều kiện lịch sử, Người đã vượt qua các lớp sĩ phu yêu nước tiền bối, sớm nhận thức được những vấn đề của thời đại mình. Phong cách tư duy mới đã giúp Nguyễn Ái Quốc có quyết định đi sang phương Tây để tìm đường cứu nước. Nhờ đó, Người đã có dịp sống ở những trung tâm văn hoá khoa học chính trị nổi tiếng của thế giới thời đó, như NewYock, Pari, Luân Đôn, Mátxcơva…, tiếp xúc, hoạt động gần gũi với những đại diện xuất sắc của trí tuệ thời đại bấy giờ các nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ, nhà hoạt động chính trị, cách mạng nổi tiếng,… nhanh chóng trưởng thành về nhiều mặt, trong đó có tư duy biện chứng và hiện đại.

Nhờ có phong cách tư duy đó, cùng với sự cần cù chịu khó, óc quan sát và suy nghĩ từ thực tiễn, Hồ Chí Minh đã tự trang bị cho mình một vốn học vấn sâu rộng và chắc chắn, để trở thành một trí thức tự học, nhưng uyên bác về nhiều mặt. Đó là phong cách tư duy không tiếp thu một cách thụ động, không dừng lại ở sự vật, hiện tượng bề ngoài, mà đi sâu phân tích, so sánh, chắt lọc, lựa chọn, tổng hợp, rút ra những phán đoán, đi tới những kết luận mới, đề ra những luận điểm mới, vừa kế thừa, vừa phát triển sáng tạo để tiếp tục vươn lên phía trước. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã bắt kịp với nhịp sống và sự phát triển của thời đại, để có thể lựa chọn đúng đường đi cho dân tộc và dự kiến được những bước phát triển mới của lịch sử.

* Phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo

Đó là phong cách tư duy không giáo điều, rập khuôn, không vay mượn của người khác, hết sức tránh lối cũ, đường mòn, tự mình tìm tòi, suy nghĩ, truy đến tận cùng bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm ra chân lý, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn.

Hồ Chí Minh đã không ngừng làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn văn hoá – tư tưởng của nhân loại. Người đã tìm hiểu, tiếp thu những yếu tố dân chủ, tiến bộ, nhân văn của các học thuyết khác, theo tư tưởng chỉ đạo của V.I Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”.

Tư duy sáng tạo của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc di huấn của các bậc thầy của cách mạng vô sản, không hề coi lý luận của C.Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, mà phải tự phát triển hơn nữa lý luận của C.Mác, vì lý luận này chỉ đề ra nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy, thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống Pháp, ở Pháp không giống Đức, ở Đức không giống Nga. Đó chính là quan điểm thực tiễn, cơ sở của sự sáng tạo.

* Phong cách tư duy hài hoà, uyển chuyển, có lý, có tình

Thể hiện rõ nhất của phong cách tư duy này ở Hồ Chí Minh là luôn biết xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, những “lẽ phải không ai chối cãi được” để nhận thức và lý giải những vấn đề của thực tiễn. Người từng viết: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau: Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”; hay: “Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”.

Để đàm phán, thuyết phục đối phương đi tới đồng thuận, Người thường lập luận trên cơ sở nguyên tắc về tính thống nhất của nguyên lý. Người viết: “Quyền độc lập tự do ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sĩ, và đoàn kết của toàn quốc dân mà xây dựng nên. Vậy nên, những người chân chính ham chuộng độc lập, tự do của nước mình, thì phải kính trọng độc lập, tự do của dân tộc khác”. Trong thư gửi những người bạn Pháp ở Đông Dương năm 1946, Người viết: “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn được tự do… chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi”.

Với phong cách tư duy này, Hồ Chí Minh phê phán thói “kiêu ngạo cộng sản”. Người nói: “Vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, chúng ta chỉ biết trung thành với giai cấp vô sản, quyết tâm đấu tranh cho nhân dân. Thế thôi”.

Hồ Chí Minh coi công việc chúng ta đang làm hôm nay – giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới, bảo vệ Tổ quốc là sự nối tiếp sự nghiệp cha ông đã mở ra từ mấy nghìn năm trước. Người nói:

Các vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”

Vì “cuộc chiến đấu hiện thời của chúng ta chỉ là kết tinh của cuộc trường kỳ đề kháng mà ông cha, anh em chúng ta đã tiếp tục trong 80 năm Pháp thuộc”.

Sự hài hoà, uyển chuyển, lý tưởng và đạo đức nhân văn thể hiện rõ trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Người. Bản thân Lời kêu gọi có sức mạnh giục giã như lời hịch của núi sông, thôi thúc mọi người cầm vũ khí, đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nhưng lại được viết bằng những lời lẽ rất hoà bình, nhân danh chính nghĩa mà chiến đấu, không hề có một chữ nào nói đến căm thù và chém giết. Trong thư gửi tướng R. Salan – người từng tháp tùng Hồ Chí Minh trong chuyến thăm nước Pháp – vừa được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp thay tướng J.Valluy, Người viết: “… chúng ta đã là những người bạn tốt. Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!”.

(Trích những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, NXB Chính trị Quốc gia sự thật 2016)

Ban Tuyên giáo Thị ủy(Tổng hợp)

Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

(Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 9/2017)

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Hỡi đồng bào cả nước, “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta, hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở trung, nam, bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông – dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn, kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

(Tuyên ngôn độc lập, đọc tại lễ Quốc khánh 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình Hồ Chí Minh toàn tập)

Ban Tuyên giáo Thị ủy(Tổng hợp)

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trong tác phẩm

 “Sửa đổi lối làm việc”

(Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 10/2017)

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trong “Sửa đổi lối làm việc” đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn mang đậm tính khoa học, tính nhân dân và dân tộc sâu sắc, luôn soi sáng cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đặc biệt coi trọng vấn đề cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, coi đây là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, tồn vong của chế độ. Do vậy, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chính sách đúng đắn, phù hợp để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, biết vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có cả hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về cán bộ và công tác cán bộ. Tư tưởng của Người về cán bộ và công tác cán bộ được thể hiện rõ nét trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc viết năm 1947. Cho đến nay, tư tưởng đó vẫn còn nguyên giá trị.

Trước hết, về vị trí, vai trò của người cán bộ đối với cách mạng. Cán bộ chính là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, là ngọn nguồn của mọi công việc, công việc tốt, xấu, thành hay bại đều do cán bộ mà ra: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”(1). “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (2).

Từ nhận thức về vị trí, vai trò của cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rằng, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, “huấn luyện” cán bộ là việc làm rất quan trọng, quyết định sự thành, bại của cách mạng. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng (3) và “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu” (4).

Trong công tác huấn luyện cán bộ, Người chỉ rõ những khuyết điểm thường mắc phải như: huấn luyện một đằng nhưng làm một nẻo, lý luận không đi đôi với thực hành, cách dạy máy móc theo kiểu học thuộc lòng, huấn luyện cán bộ xong nhưng họ chưa làm hoặc làm không đúng… Do vậy, cần phải có chính sách đào tạo, “huấn luyện” cán bộ một cách toàn diện về nghề nghiệp, chính trị, văn hóa, lý luận đi đôi với thực hành, cả đức và tài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc huấn luyện về đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên bên cạnh tài năng. Mỗi người cán bộ, đảng viên cần có những tính tốt: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên là cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Đức và tài phải thống nhất với nhau, trong đó đức là “gốc”, “Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (5). Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả mai sau, mang tầm chiến lược, thời đại: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết” (6).

Cùng với chính sách “huấn luyện” cán bộ, cần phải có chính sách lựa chọn, “cất nhắc”, sử dụng cán bộ sao cho không để “lãng phí” nhân tài, cán bộ, “chảy máu chất xám”. Muốn cất nhắc đúng, trước hết cần phải hiểu rõ về năng lực, tư cách, đạo đức của cán bộ, có khả năng phù hợp với công việc được giao hay không, “khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xem xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc” (7).

Đồng thời, phải có chính sách sử dụng, bố trí cán bộ sao cho phù hợp với năng lực của cán bộ, với từng vùng, miền. Người thường xuyên nhấn mạnh: việc cất nhắc, sử dụng cán bộ đúng người, đúng việc sẽ đem lại thành công cho sự nghiệp cách mạng, cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no hạnh phúc, sự nghiệp cách mạng sẽ ngày càng nảy nở. Ngược lại, cất nhắc sử dụng không đúng sẽ dẫn tới lãng phí nhân tài, gây tai họa cho cách mạng. Để phát huy tốt vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, trong chính sách cán bộ, Người nhấn mạnh cần lưu ý mấy điểm lớn: “Hiểu biết cán bộ; Khéo dùng cán bộ; Cất nhắc cán bộ; Thương yêu cán bộ và Phê bình cán bộ” (8).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là sự kết tinh giá trị truyền thống của cha ông ta trong việc dùng người để trị quốc, là đỉnh cao của “thuật dùng người”. Thực tiễn trong lịch sử từ khi có Đảng, do làm tốt công tác cán bộ, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quy tụ được đội ngũ đông đảo những cán bộ, đảng viên, nhân tài ngoài đảng có đủ đức, đủ tài, “vừa hồng, vừa chuyên”, lãnh đạo toàn dân tộc vượt qua mọi khó khăn từng bước giành thắng lợi to lớn trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giành và bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền.

Vận dụng tư tưởng của Bác trong công tác cán bộ hiện nay là một việc làm cực kỳ cần thiết, qua đó, đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân, đồng thời tập hợp được sức mạnh toàn dân tộc, đoàn kết, phấn đấu đưa nước ta phát triển sánh ngang với các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn./

Ban Tuyên giáo Thị ủy(Tổng hợp)

                         

Phương pháp dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua bài báo “Dân vận”

(Chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phục vụ sinh hoạt chi bộ tháng 11/2017)

 Ngày 15/10/1949, Báo Sự Thật đăng bài “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bút danh X.Y.Z. Bài báo ra đời ở thời điểm cả dân tộc đang chuẩn bị bước vào những chiến dịch lớn trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp vô cùng gay go, quyết liệt; đòi hỏi công tác vận động quần chúng của Đảng phải đi vào chiều sâu, cụ thể, thiết thực, nhằm động viên tối đa sức người, sức của cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Tác phẩm đã chỉ dẫn về nội dung, phương pháp dân vận vô cùng sâu sắc nhưng hết sức giản dị, tỏ rõ phong cách của vị lãnh tụ thiên tài.

Trước khi bàn về nội dung, phương pháp dân vận, Người đã chỉ rõ cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần về bản chất tốt đẹp của Nhà nước ta đó là “nước ta là nước dân chủ”. Chính nhờ có bản chất tốt đẹp đó mà Đảng ta đã hiệu triệu được toàn dân đứng lên theo Đảng tiến hành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đây cũng là mục tiêu phấn đấu suốt cuộc đời hoạt động của Người để xây dựng một nhà nước tốt đẹp, trong đó người dân thực sự là chủ: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, “Bao nhiêu quyền lợi đều của dân”. Theo Hồ Chí Minh, bản chất công tác dân vận là: “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể giao cho. Trong quy trình dân vận Người đặc biệt chú ý đến dân chủ. Người chỉ rõ “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra sức thi hành”.

Quan điểm về dân vận của Hồ Chí Minh rất cụ thể, rõ ràng “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh…) đều phải phụ trách dân vận”. Quan điểm này chỉ rõ cho mọi cấp chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực chủ động sáng tạo để có biện pháp vận động quần chúng phù hợp, thiết thực, hiệu quả.

Về phương pháp dân vận: Đây là vấn đề được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra với những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt với cán bộ làm công tác dân vận, đó là: “Phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.

Óc nghĩ  được Hồ Chí Minh đặt ở vị trí hàng đầu, điều này cho thấy Người đặc biệt chú ý đến trí tuệ của người làm công tác dân vận. Hoạt động dân vận trước hết là sự hiểu biết về lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, về đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; khả năng tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục quần chúng; nắm bắt được tâm tư, tình cảm của quần chúng nhân dân để kịp thời tham mưu cho Đảng những chủ trương, giải pháp đúng đắn, kịp thời để phát huy tích cực và ngăn chặn mặt tiêu cực phát sinh trong quần chúng. Cán bộ dân vận phải tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước xây dựng, ban hành được các chủ trương, đường lối, chính sách hợp lòng dân, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phải có trình độ tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng.

Mắt trông là yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt đối với cán bộ dân vận. Cán bộ dân vận phải sát cơ sở, tuyệt đối không được quan liêu, chỉ ngồi nghe điện thoại, nhận báo cáo rồi nhận định, phán xét. Theo Hồ Chí Minh, muốn vận động quần chúng, muốn tham mưu được cho Đảng về công tác vận động quần chúng cho thiết thực, đạt hiệu quả cao thì điều đặc biệt quan trọng là phải mục thị được sự việc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ công tác dân vận.

Tai nghe là phương pháp khoa học của công tác dân vận. Theo Hồ Chí Minh, người làm công tác dân vận phải nắm bắt kịp thời các thông tin quần chúng, phải biết nghe dân nói, phải hiểu được nguyện vọng chính đáng của dân và biết loại trừ những thông tin nhiễu, thiếu chân thực, không khách quan, không đúng sự thật. Nghe được dân nói nhưng không rơi vào tình trạng theo đuôi quần chúng mà phải biểu thị được thái độ vừa cầu thị, vừa định hướng dẫn dắt được quần chúng.

Chân đi là một đòi hỏi bức thiết luôn đặt ra đối với cán bộ dân vận. Đây là yếu tố chống căn bệnh quan liêu, hành chính về làm việc theo kiểu giấy tờ của các cơ quan. Sinh thời, dù bận nhiều công việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn dành thời gian đi cơ sở để khảo sát tình hình thực tế, lắng nghe ý kiến của dân và trực tiếp tháo gỡ những khó khăn nảy sinh trong dân.

Miệng nói là phương pháp không thể thiếu của người làm công tác dân vận. Người cán bộ dân vận phải thường xuyên có trách nhiệm tuyên truyền và cổ động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Theo Hồ Chí Minh, để dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ và làm theo thì công tác tuyên truyền miệng phải đúng và phải khéo. Nói với dân phải đơn giản, rõ ràng, thiết thực và cụ thể, tránh mệnh lệnh. Theo Hồ Chí Minh, quần chúng của ta vốn không thuần nhất nên đến với từng đối tượng người cán bộ dân vận phải chọn cách thức phù hợp, nhưng điều đặc biệt quan tâm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn cán bộ dân vận là đến với dân, nói với dân phải chân thành, bình đẳng và cầu thị.

Tay làm là phương pháp hết sức quan trọng và thiết thực của cán bộ nói chung và cán bộ làm công tác dân vận nói riêng. Nói đi đôi với làm là phạm trù đạo đức đối với tất cả chúng ta. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan đến đến vấn đề này. Người có nhiều bài viết, bài nói phê phán những cán bộ, đảng viên “nói không đi đôi với làm”, “đánh trống, bỏ dùi”. Người nhắc nhở: “Muốn thực sự làm người lãnh đạo, người chỉ huy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải hết sức giữ gìn và nêu gương về mặt đạo đức. Bởi vì, theo Người sức hấp dẫn của CNXH và lòng tin của dân đối với Đảng không phải lý tưởng cao xa mà trước hết, cụ thể và trực tiếp nhất là ở tấm gương của những người cộng sản đang cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với dân, đặc biệt là những người có chức, có quyền.

Chỉ với 13 từ ngắn gọn, song những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hàm chứa thật đầy đủ những yêu cầu đặt ra đối với người làm công tác dân vận. Tất cả các nội dung đều thống nhất, hòa quyện chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, rất giản dị mà sâu sắc, trở thành cẩm nang cho người làm công tác dân vận của Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực; sự nghiệp đổi mới đất nước bên cạnh những thuận lợi cơ bản, cũng đang phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức. Trong bối cảnh đó, nhận thức về vai trò của nhân dân, về công tác dân vận, về phương pháp công tác dân vận càng có ý nghĩa thiết thực hơn bao giờ hết, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”./.

                              Ban Tuyên giáo Thị ủy(Tổng hợp)